Results 1 to 2 of 2
  1. #1
    MBA family Field Marshal
    Join Date
    Mar 2007
    Posts
    1,726
    Thumbs Up/Down
    Received: 388/1
    Given: 33/1

    Default 80 ngày ở Mỹ - Thái Bá Lợi

    May mà đọc được bài này hôm nay chứ đọc được cách đây 10 ngày thì sẽ phải " hỏi tội" bác Nguyễn Duy cho " ra nhẽ ". Ở cạnh Bác Nguyễn Duy, GS. Hoàng Ngọc Hiến và GS. Huệ Chi có đến 6 tháng mà " chẳng nghe bác ấy nói rằng đấy là xã hội của Mác gì cả, thế mà giờ lại phát hiện ra là bác ấy " nhận xét" thế. Mời cả nhà đọc chơi cho vui :

    http://vanhocquenha.vn/view.asp?n_id=4869&n_muctin=26

    http://vanhocquenha.vn/view.asp?n_id=4875&n_muctin=26



    80 Ngày ở Mỹ

    Tháng 5/2011 gặp nhà văn Thái Bá Lợi được ông thông báo đang chuẩn bị đi Mỹ, tháng 7 được điện thoại ông gọi về từ Mỹ, tháng 10, sau những ngày dài ở Mỹ, nhà văn gửi cho trang Văn học Quê nhà những ghi chép của ông trong thời gian sống trên đất Mỹ. Qua câu chuyện ông kể, chúng tôi được cung cấp thêm những tư liệu thực về cuộc sống ở nửa bên kia trái đất, những ghi chép thật nhiều chất sống. Xin giới thiệu tới bạn đọc "80 ngày ở Mỹ" của nhà văn Thái Bá Lợi.


    80 NGÀY Ở MỸ



    Hannibal

    Tháng Tư 1975, Đà Nẵng mới giải phóng, tôi vớ được cuốn tạp chí Văn ở nơi người ta thu gom sách báo cũ gần chợ Cồn. Đó là số đặc biệt trích đăng hồi ký của nhà văn Mỹ Erskin Caldwell (tác giả tiểu thuyết Con đường thuốc lá nổi tiếng). Ông kể cứ đến mùa thu, ông tới khu nghỉ mát mùa hè của giới thượng lưu, xin cuốc đất trồng khoai, đốn củi. Khi tuyết rơi, ông đốt lò sưởi, đào khoai ăn và viết văn. Ông viết rất khỏe, hết mùa đông trong va-li đã có một chồng bản thảo rồi xách nó về New York. Đến một tòa soạn, Caldwell nộp thử năm truyện ngắn. Người Tổng biên tập nhận bài rồi sắp xếp cho ông nghỉ ở một nhà khách và dặn hãy chờ điện thoại. Suốt ngày ông không rời cái điện thoại, kể cả việc ông phải chạy thật nhanh để mua ổ bánh mì rồi trở về phòng ngay vì trên toàn thế giới chỉ có ông Tổng biên tập biết được số máy này. Sau vài ngày thì có chuông đổ. Caldwell để nó reo mấy cái cho sướng tai mới bắt máy. Đầu dây bên kia có tiếng nói: “Năm truyện của ông đều đạt cả, nhưng báo chỉ in hai truyện thôi, được chứ?”. Vì quá vui Caldwell không trả lời được. Lại có tiếng nói: “Chúng tôi trả anh hai năm mươi một truyện được không?”. Lúc này Caldwell đã tỉnh. “Hai năm mươi làm sao tôi đủ tiền về” - “Anh nói sao, mỗi truyện hai trăm năm mươi đô la, hai truyện là năm trăm, anh về đâu mà không đủ tiền?”. Lúc ấy giọng Caldwell run run: “Tôi tưởng hai đô la rưỡi”.

    Sau khi dằn túi 500 đô la (vào những năm 30 thế kỷ trước đó là số tiền không nhỏ), Caldwell đáp tàu lửa về Hannibal, bên bờ sông Mississippy, quê hương nhà văn nổi tiếng Mark Twaine. Đang lang thang trên phố, ông nhìn thấy khách sạn Mark Twaine, vội xách hành lý vào. Sau khi đặt cái máy chữ vào một góc ông đến thuê phòng ngủ. Người lễ tân lắc đầu. Ông hỏi có phải khách sạn hết phòng không? Người lễ tân trả lời: “Còn nhiều phòng lắm, nhưng không cho các ông nhà văn với cái máy chữ trọ được. Họ ở cả tuần, bỏ đi không trả tiền, chỉ để lại cái máy chữ”. Caldwell nói là ông có tiền cũng không thuyết phục được người lễ tân cho đến khi ông móc túi lấy ra một tệp đô la thì mới có được chỗ nghỉ.

    Còn bây giờ vào tháng 6-2011, tôi đã đứng trước khách sạn ấy, trông bề ngoài, có cảm tưởng nó cũng chẳng có thay đổi gì nhiều so với 80 năm trước.

    Cái thị trấn thật nên thơ này cái gì cũng gắn với Mark Twaine. Nhà hàng, khách sạn, cửa hàng lưu niệm, quán cà phê, thư viện, hiệu sách, siêu thị… tất tật đều mang tên nhà văn. Người Mỹ là bậc thầy đánh thức các giá trị trong đó có văn chương thành tiền. Ngôi nhà của Mark Twaine thành bảo tàng, họ dựng lại căn nhà của Tom Sawyer, nhân vật trong tác phẩm cùng tên như những gì nhà văn tả trong sách. Khách phải bỏ ra 9 đô la để thăm mấy ngôi nhà nhỏ này trong một không gian hẹp chỉ bằng một phần mấy chục lần Bảo tàng Nghệ thuật Chicago mà ở đó chỉ phải trả 18 đô la. Trong Bảo tàng người ta còn trưng bày cái máy in sản xuất ở Chicago thời Mark Twaine làm báo. Nói chung họ tận dụng tối đa những gì gợi nhớ đến nhà văn. Có thể nói ở Hannibal ở đâu cũng có sự hiện diện của Mark Twaine. Trước mặt thị trấn là sông Missisippy, con sông hùng vĩ của nước Mỹ và thế giới vẫn lững lờ trôi, mang theo trong nó những xà lan chở hàng, chắc đã có từ sinh thời Mark Twaine. Cũng có một con đê để chống lũ. Bình thường, xe hơi có thể chạy ra tận mép nước, khi nước sông dâng cao người ta chỉ việc cẩu các cực chắn nước để nối hai đoạn đê lại với nhau, không cho nước sông tràn vào thị trấn. Nhìn nó thật đơn giản so với những gì rối rắm mà thành phố Hồ Chí Minh phải đối phó với triều cường.

    Ở Hannibal người ta truyền tụng một câu chuyện rằng: Cô giáo dạy văn hỏi một học sinh: Sao em viết sai ngữ pháp nhiều quá vậy. Cậu học sinh trả lời rất dõng dạc: Em viết theo Mark Twaine. Cô giáo nói: Vậy là chưa ổn rồi. Khi nào nổi tiếng như Mark Twaine, em muốn viết sao cũng được, nhưng hiện tại em phải viết đúng ngữ pháp.

    Lại nhớ trước khi phỏng vấn vào Mỹ, con trai tôi có dặn rằng: Bố cứ nói đến thăm gia đình con đang học ở Đại học Missouri, gần Hannibal, quê hương Mark Twaine thì sẽ dễ thuyết phục người phỏng vấn hơn. Nhưng khi phỏng vấn người ta lại hỏi: Con gái của mày đã có con chưa? Rồi sau đó cho visa, chẳng dính dáng gì đến văn chương cả. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhiều lần đi Mỹ, có một lần được hỏi: Mày đi giày số mấy? Một câu hỏi hơi bị ít chất thơ.



    Đại vực (Grand Canyon)

    Kỹ sư Hoàng Văn Quang, vốn là một dịch giả văn học tiếng Anh, từng là cộng tác viên quen thuộc với nhà xuất bản Đà Nẵng thời bao cấp, năm 1991 sang định cư ở Mỹ, một trong những người hội nhập thành công vào xã hội Mỹ, đang làm việc trong ngành công nghệ phần mềm lái xe đưa tôi và anh Kim chủ hiệu may Đại Nam ở Đà Nẵng từ Phoenix, thành phố lớn nhất bang Arizona lên Grand Canyon. Quang nói:

    - Di sản thiên nhiên thế giới này không kể lại được, xem ảnh cũng khó hình dung ra, chỉ có đến nơi mới cảm nhận được.

    Xe chúng tôi rời khỏi Phoenix bắt đầu leo dần vào vùng hoang mạc chỉ thấy có xương rồng mọc hai bên đường. Người ta còn đúc những cây xương rồng bằng bê tông làm biểu tượng cho vùng đất này ở những giao lộ trông như cây thật, lớn hơn nhiều lần để nhắc nhở cho người đi đường biết rằng xứ này chỉ có cây xương rồng mọc được.

    - Bây giờ mà có một đoàn cao bồi cưỡi ngựa từ trong hẻm núi ra chắn đường thì gay. Anh Kim nói.

    - Họ sẽ không đuổi kịp mình. Quang nói. Xe đang chạy 80 miles/giờ. Ở Mỹ chỉ thấy có một sự du di như là một luật bất thành văn. Đường cho chạy 70, có thể chạy lên 80, nhưng đến 81 thì có chuyện ngay.

    Lên đến độ cao trên 1500 mét đã lác đác thấy những bụi cây khác ngoài xương rồng. Chúng tôi dừng lại một thị trấn nhỏ, rút bàn ghế trong xe ra ngồi pha trà uống. Cái nóng trên 40oC ở Phoenix ba giờ trước đã biến đâu mất. Ngồi dưới bóng hàng cây sồi cứ tưởng như đang ngồi ở Bảo Lộc, cửa ngõ lên Đà Lạt. Quang nói sẽ dừng lại ở một làng người da đỏ đang được bảo tồn trước khi vào Grand Canyon. Dọc đường tôi để ý có những bãi đất rộng dài cả chục cây số bên phải để trống, còn bên trái thì nhà cửa mọc lên san sát. Quang giải thích đó là đất Chính phủ đền bù cho người da đỏ khi giải tỏa để xây dựng thành phố, đường sá, không ai được động vào.

    “Đại vực” - phải đứng bên bờ đá của vực mới cảm nhận được ý nghĩa của hai chữ này. Tôi đã xem tấm ảnh chụp Grand Canyon từ trên máy bay, dòng sông Colorado như một sợi chỉ xanh mỏng manh nằm giữa những vách đá màu au đỏ vừa hùng vĩ vừa rùng rợn. Tại sao thiên nhiên lại tạo ra một cảnh quan quái đản này. Đứng bên nó, nhìn xuống vực sâu hun hút lại có cảm giác con người sao mà bé nhỏ quá. Từ bờ vực phía nam đến bờ vực phía bắc tầm mắt không với tới. Tuy hai bờ chỉ cách nhau 16 km nhưng phải đi 356 km mới đến được với nhau đủ biết đường đất hiểm trở như thế nào. Đá làm nên đại vực không chỉ có màu đỏ gan gà mà còn màu xám, màu xanh đậm, màu vang nghệ, màu nâu sẫm. Các màu đá làm ta rối mắt, mà trút trách nhiệm cho tạo hóa tại sao lại phải rối rắm như vậy. Người ta làm đường dọc theo bờ vực để người đi bộ thỏa sức nhìn ngắm. Các trạm dừng chân cách nhau quãng một ngàn, quãng vài ngàn mét là nơi du khách nghỉ ngơi, giải trí, ăn uống rồi lên đường đi tiếp. Phong cảnh hùng vĩ này không làm chán mắt lữ khách, chỉ muốn đi thêm, nhìn thêm. Dù vậy chúng tôi chỉ đi được ba nơi là khu Trung tâm, khu Bảo tàng và Khu phía Đông nơi có ga xe lửa ở độ cao gần 2000 mét thì trời đã về chiều. Thật là quá ít ỏi bởi vườn quốc gia này nằm trên đất bang Arizona còn lấn sang cả Nevada và Utah.

    Chúng tôi lên xe để đi Las Vegas. Hoàng Văn Quang nói rằng đến Grand Canyon để biết thế nào là thiên nhiên còn phải đến Las Vegas để biết thế nào là nước Mỹ. Ở cái sa mạc từ đất đai đến khí hậu chắc ít nơi nào khắc nghiệt hơn, người ta dựng lên một thành phố 1,6 triệu dân mô phỏng kiến trúc Anh, Ý, Ai Cập, Trung Hoa, Nhật Bản… Lại có cả kiến trúc của New York của Mỹ để cả thế giới đến đó không chỉ đánh bạc mà còn ăn chơi nhảy múa. Ngày 4/7 báo đưa tin có 300.000 người đến Las Vegas, chui vào cái thành phố mát rượi đó để giải trí bất kể nhiệt độ ngoài trời trên 40oC.



    VN Bão lụt

    Anh Nhật Thành, Bí thư quận ủy Sơn Trà năm 2006, thời cơn siêu bão Xangsane đổ vào Đà Nẵng nói với tôi: “Khi nào tiến sĩ Trần Tiễn Khanh về Đà Nẵng, anh báo cho tôi biết, tôi muốn gặp anh Khanh để nói lời cảm ơn”. Anh Thành kể:

    - Một ngày trước khi bão đổ bộ, dự báo của Trung tâm khi tượng thủy văn là bão mạnh cấp 12 và trên cấp 12, nhưng tôi cũng chưa hình dung được sức mạnh tàn phá của bão. Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đóng Sở chỉ huy tại khách sạn Bạch Đằng nhắc nhở suy nghĩ phương án sơ tán dân ở bán đảo Sơn Trà. Cả trăm năm qua, bão vào Đà Nẵng nhiều, nhưng ít khi phải sơ tán dân, vì người ta tin vào sự che chắn của núi Sơn Trà. Tôi đang rất lưỡng lự vì sơ tán mấy chục ngàn người đâu phải chuyện đơn giản. Đang trong tâm trạng ấy, tôi mở VN Bão lụt của anh Khanh. Trang dự báo này đã dịch sang tiếng Việt và tải về dự báo của các cơ quan khí tượng trên thế giới như Hải quân Mỹ, Hồng Kông… và nhiều đài khác. Các dự báo gần như giống nhau về tốc độ gió, tọa độ, thời gian đổ bộ vào Đà Nẵng. Nhìn các thông số tôi hiểu ngay đây là một trận bão khủng khiếp. Tôi báo cáo về Sở chỉ huy đề nghị sơ tán gấp trên 30 ngàn dân của các phường ven biển. Chiều hôm ấy và cả trong đêm cuộc di tản lớn nhất từ trước đến giờ ở Sơn Trà được làm khẩn trương và quyết liệt, đến gần sáng thì xong. 9 giờ bão đổ bộ vào. Nhà cửa cấp 3, cấp 4 đổ sập hàng loạt, cả quận như vừa qua một trận B52 rải thảm. Thật may mắn không có một người nào thiệt mạng. Tôi phải nói lời cảm ơn tới anh Khanh.

    Nhưng mấy lần tiến sĩ Khanh về Đà Nẵng, do chưa đủ cơ duyên mà hai con người này vẫn chưa gặp được nhau.

    Tôi đến Las Vegas, ở nhà anh Khanh 10 ngày. Anh chị giao cho tôi cả tầng hai, gồm một phòng khách, hai phòng ngủ với hàng ngàn bản sách tiếng Việt, tiếng Anh. Tôi để ý có một phòng trong đó máy móc chạy ù ù suốt ngày. Anh Khanh nói đó là VN Bão lụt.

    - Mấy năm trước tôi giành nhiều thì giờ cho trang dự báo này. Nhưng bây giờ thì rảnh rỗi hơn có thì giờ kiếm tiền nuôi vợ con. Thứ nhất là dự báo trong nước đã tốt lên rất nhiều. Vả lại tôi đã lập các phần mềm tự động để tìm kiếm tin tức và dịch sang tiếng Việt đều đặn mỗi ngày 4 lần, nếu có bão lụt ảnh hưởng đến Việt Nam thì cập nhật dày hơn.

    Thời nhà báo Đặng Ngọc Khoa còn sống, mỗi lần về Việt Nam, anh Khanh thường đề xuất nhiều ý tưởng để giúp ngư dân bám biển mà có thông tin chính xác mỗi khi có bão tố. Anh muốn mỗi tàu có một điện thoại vệ tinh và anh tích cực cho dự án này. Nhưng không phải ý tưởng nào cũng có thể thực hiện được vì đụng nhiều cản trở có lý và vô lý. Nhưng anh không nản lòng. Anh nói:

    - Mình có lòng với quê hương đất nước thì cứ làm hết sức mình. Còn thành tựu hay không đâu phải mình quyết định được, nên tôi lúc nào cũng lạc quan, công việc đến thì lại vui vẻ làm hăng hái như lúc ban đầu vậy.

    Và vào một buổi sáng anh lái xe đưa tôi đến thăm hồ Lake Mead và đập thủy điện Hoover Dam, một công trình vĩ đại của nước Mỹ thời kinh tế suy thoái những năm 1930. Con đập chặn sông Colorado từ phía đông sang và các sông Nevddy Virgin từ phía bắc xuống làm nên công trình thủy điện lớn nhất nước Mỹ. Ngoài việc phát điện nó còn cung cấp nước ngọt cho ba bang California, Arizona, Nevada vốn là vùng đất khô cằn, hoang mạc. Anh mang theo một bao bánh mì để cho cá ăn. Những con cá chép lớn cả chục ki-lô-gam nhào lên mặt nước khi có người cho ăn. Chúng rất dạn với người vì ở hồ này người ta không bắt cá. Anh Khanh nói:

    - Không làm được việc gì to tát thì làm việc nhỏ cho cá ăn vậy.

    Tôi biết ngoài VN Bão lụt, anh Khanh còn làm những chuyện khác cũng không phải là nhỏ, nhưng anh không thích nói về nó.


    Trường Báo chí đầu tiên thế giới

    Tôi đến trường Đại học Missouri ở thành phố Colombia vào mùa hè nên ở đâu cũng vắng vẻ, yên tĩnh. Thành phố 84 ngàn dân này thực ra là một trường đại học, hay nó sinh ra là để phục vụ cho đại học Missouri. Ngoài 32 nghìn sinh viên, cũng từng ấy người nữa trực tiếp dính dáng đến việc học hành, số dân còn lại chắc chỉ lo siêu thị, bệnh viện, bán ô tô, xây dựng nhà cửa, bảo trì các công trình và các dịch vụ xã hội khác ở nơi được đánh giá là một trong mười thành phố đáng sống của Mỹ thì cũng đã hết người rồi.

    Thành phố đại học ở trong rừng. Các tòa nhà chỉ 3 tầng trở xuống núp dưới các hàng cây sồi, cây phong cổ thụ bao quanh là những thảm cỏ xanh mướt, được chăm sóc chu đáo có những tốp chồn, nhím, thỏ thảnh thơi chạy nhảy, chẳng sợ hãi trước sự có mặt của con người. Căn nhà cao nhất thành phố là bãi giữ xe, 8 tầng. Đang vào hè nên chỉ còn tiếng ve kêu râm ran làm náo động không gian tĩnh lặng. Ve ở đây nhỏ hơn ve Việt Nam, nhưng mật độ dày đặc. Những cây phong ve bám kín cành lá. Thì ra ở đâu tiếng ve cũng gợi nhớ đến mùa hè của thời học trò.

    Tôi chưa hỏi được ai là người đầu tiên, từ năm 1836 đã nghĩ ra được cái việc giữa hai thành phố lớn của bang Missouri là Saint Louis và Kansat City, tìm một vùng đất đồng không mông quạnh để mở trường đại học. Khoảng cách giữa đại học Missouri và hai thành phố lớn đó bằng nhau, trên dưới 200 km. Dù ai chăng nữa thì đó cũng là một tầm nhìn rất xa nếu đem so với công việc thiên nan vạn nan di dời các trường đại học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ra ngoại thành ở ta bây giờ.

    Ở đây vào mùa hè còn có một cảnh tượng lạ lẫm (với tôi) và thú vị. Từng đoàn học sinh vừa xong lớp 12, “lêu lổng” không học hè, không ôn thi đại học mà cùng với phụ huynh lang thang từ đại học này sang đại học khác để tìm một chỗ học phù hợp với sở thích, với năng lực của mình. Còn các trường đại học thì cử những sinh viên có khả năng tiếp thị, có hiểu biết sâu về trường mình cũng như lịch sử, đời sống xã hội vùng đất quanh trường nhằm để thu hút càng nhiều sinh viên đến học càng tốt, nhất là những sinh viên giỏi. Ở đại học Missouri có Lê Ngọc Anh, huy chương vàng toán quốc tế năm 2008 ở Madrid, Tây Ban Nha, nhưng sang đây lại học công nghệ thông tin. Các giáo sư trường Toán vận động Ngọc Anh về học toán với nhiều ưu đãi, lại còn nhờ các anh chị Việt Nam đang làm luận văn tiến sĩ vận động thêm.

    Sinh viên trên một trăm nước đã đến đây học. Việt Nam có gần 50 người, chỉ có 4 sinh viên đại học, còn lại là sinh viên tiến sĩ, sinh viên thạc sĩ như cách gọi ở đây. Điều này tôi cảm thấy có gì đó hay hay. Tôi đã nhìn thấy anh chị Cường, Thy, một người nghiên cứu sau tiến sĩ, một người đang bảo vệ luận văn tiến sĩ, có hai con đang học phổ thông ở đây, ba lô tòng teng trên vai, nắm tay nhau tung tăng trên con đường rợp bóng cây dẫn tới các giảng đường. Dù sao họ vẫn là học trò, tuy rằng nghiên cứu sau tiến sĩ không còn được gọi là sinh viên nữa.

    Đại học Missouri chưa phải là đại học hàng đầu của nước Mỹ, nhưng có nhiều trường nổi tiếng như trường Nông nghiệp, trường Y… Đặc biệt là trường báo chí. Trường được thành lập từ 1 tháng 7 năm 1905, là trường báo chí đầu tiên của thế giới. Từ đó đến nay trường luôn đẫn đầu chuyên ngành này, không chỉ ở Mỹ. Trong các hoạt động báo chí trăm năm nay, các nhà báo tốt nghiệp trường này luôn tự hào về nguồn gốc đào tạo của mình. Hiện nay trường có hai tờ báo, phát hành rộng rãi. Tôi đã đến phòng trưng bày ảnh báo chí của trường. Có những bức ảnh từ đại chiến thế giới 1, lại có những bức ảnh về đồng bào HMông ở Mường Nhé, Điện Biên. Thế mới biết các nhà báo từ trường này đang có mặt nhiều nơi, hoạt động rộng khắp cả thời gian và không gian trên hành tinh này.

    Những người Việt đang học tập, nghiên cứu ở đây cũng như các nơi khác trên đất Mỹ và ở các nước khác nữa chắc cũng chung một suy nghĩ như anh chị em đã nói với tôi trong một tiệc thịt nướng ngoài rừng rằng không biết công khó học tập của mình ở đây khi về Việt Nam sẽ được dùng như thế nào? Muốn có bằng tiến sĩ phải nghiên cứu ít nhất 5 năm, ở trường này là hệ số 5, 9 năm, tiền bạc bỏ ra không phải là ít. Dù là tiền của dự án 322 (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài của Bộ Giáo dục-Đào tạo), học bổng của chương trình hợp tác Việt-Mỹ, học bổng Fulbright, học bổng của trường (Asustentship) hoặc tiền tự túc cũng đều là tiền bạc phải bỏ công sức ra mới có. Nỗ lực học hành với tiền bạc ấy mà khi về nước không được sử dụng đúng ngành học, không được sắp xếp làm việc, giảng dạy đúng với khả năng từng người, có người còn làm việc không dính dáng đến những điều đã học như đang xẩy ra thì đó không phải là lãng phí mà là sự hoang phí mang tính chất rất tiêu cực.



    Xung đột văn hóa

    Một buổi chiều ở Chicago trên bờ vịnh Michigan, thành phố này là cái nôi của kiến trúc Mỹ, sau hai ngày lang thang trong các bảo tàng, khi ngồi uống cà phê Mỹ loãng thếch, một sinh viên sau 3 năm ở Mỹ, về Việt Nam nghỉ hè, khi trở lại tiếp tục học hỏi một nghiên cứu sinh:

    - Em hỏi anh chuyện này, em đi xe máy về quê thăm bà ngoại, dọc đường thấy những xe hơi rất sang, họ dừng lại bên đường đi tiểu, đàn ông thì còn coi được, các bà ăn mặc rất đẹp cũng tụt váy đái bên đường, em không thể nào chịu được, như vậy có phải là xung đột văn hóa không?

    - Chẳng có xung đột gì đâu. Trước đây, khi cậu ở nhà cũng đã có những chuyện như vậy. Ba năm qua đã có tiến bộ rồi đấy. Nhưng ở đây về thì cậu nhìn những chuyện ấy rõ hơn. Cũng như anh về đi nhậu với một thằng bạn, rượu vào nó đe nẹt các em gái phục vụ, anh rất khó chịu. Nhưng nhớ lại ngày trước nó còn quát tháo nhiều hơn mà mình đâu có khó chịu. Học xong về Việt Nam chỉ cần mấy tháng là quen ngay ấy mà, là hòa nhập hòa tan ngay thôi, chẳng có xung đột văn hóa gì đâu.



    Nước Mỹ - Người Mỹ

    Tám mươi năm trước, nhà viết kịch Anh gốc Ireland Bernard Shaw giải Nobel văn chương 1925, sau một chuyến đi Mỹ về được hỏi quan niệm của ông về người Mỹ, ông trả lời không đắn đo: “Một người Mỹ là một thằng đểu 99%, tôi đã nói thẳng với họ như vậy, nhưng họ rất thích tôi”.

    Tám mươi năm sau chuyến đi Mỹ của Bernard Shaw, nhà văn Nguyễn Quang Lập hỏi nhà thơ Nguyễn Duy, người đi Mỹ nhiều lần, có lần ở cả 6 tháng và không phải là cưỡi ngựa xem hoa: Ông hãy nói cho tôi biết chỉ một câu về nước Mỹ”. Nguyễn Duy cũng trả lời không cần suy nghĩ: “Đó là đầy đủ tất cả những điều mà Mác mơ ước”.

    Kỹ sư Hoàng Văn Quang, người đã chỉ cho tôi một cách chi tiết những điều gặp trên đất Mỹ từ luật lệ giao thông, các cách mua hàng trong siêu thị, cách đánh bài từng xu ở Las Vegas để có các em chân dài đưa bia đến uống miễn phí cho đến cách tìm đồ ăn trong hai cái tủ lạnh to đùng trong căn bếp khi anh vắng nhà. Nói chung là Quang biết nhiều “ngõ ngách” ở đây nhưng khi ở Việt Nam không bao giờ anh nói một câu về nước Mỹ, mà năm nào anh cũng về chừng một tháng. Có ai hỏi chuyện Mỹ anh thường nói lảng sang chuyện khác, thường là chuyện ăn chơi nhậu nhẹt ở Việt Nam.

    Nhà báo Nguyễn Trung Dân nhiều lần đến Mỹ, có lần rong ruổi bằng ô tô từ Florida đến San Francisco tức là từ đông nam đến tây bắc nước Mỹ cả tháng, mỗi lần trở về có ai hỏi: Nước Mỹ có gì vui không, anh thường trả lời: Nước Mỹ chẳng có gì mà nói.

    Con trai tôi nhiều lần gợi ý tôi qua Mỹ, tôi hơi ngại vì tuổi tác, ngôn ngữ, tiền bạc. Tôi nói hãy kể cho bố nghe vài điều về nước Mỹ, nó nói bố phải sang đây, không kể được.

    Vì những lẽ đó, khi đến Mỹ tôi tìm cách đi đây đi đó, chỉ mấy nơi thôi, không nhiều vì nước Mỹ rộng gấp ba mươi lần nước Việt ta. Không như các đoàn nhà văn được đưa rước trọng thị và sang trọng như báo đưa tin, tôi di chuyển trên đất Mỹ theo kiểu đi trên đường giao liên Trường Sơn thời chống Mỹ cứu nước. Nghĩa là ở một trạm nào đó, anh em mua cho cái vé xe đò hoặc máy bay, soạn cho một ít đồ ăn rồi lên đường, như ở trạm giao liên người ta phát cho một nắm cơm trước khi rời trạm, chỉ khác là đi một mình, không có người dẫn đường, vì vậy phải giữ kỹ cái hộ chiếu và điện thoại đừng để hết pin, nhất là đừng để mất. Tất nhiên các “trạm trưởng” liên lạc trao đổi với nhau để tôi khỏi thất lạc ở cái nước Mỹ rộng lớn và lạ lẫm này, mà mỗi lần di chuyển thường mất bốn, năm giờ bay hay tám, chín giờ xe chạy trên trăm cây số/giờ. Vả lại dân Mỹ rất quan tâm giúp đỡ người khác nhất là những người lớ ngớ như tôi. Nếu có nhu cầu cần giúp đỡ họ rất tận tình, chỉ vẽ cặn kẽ với một tràng tiếng Anh nghe ù cả tai. Những lúc như vậy tôi không dại gì cố sức để nghe hay méo mồm nói thứ tiếng Anh nửa mùa của mình mà phải tụng thần chú. Tôi có mang sang Mỹ hai câu thần chú. Tôi tụng câu thứ nhất: I can not understand English (Tôi không hiểu tiếng Anh). Đã là thần chú, tụng xong linh nghiệm ngay. Người ta nắm tay tôi: Follow me (Theo tôi) và tận tình thỏa mãn điều cần giúp đỡ. Nếu vì điều gì đó, như không thể rời xa nơi đang làm việc chẳng hạn, họ sẽ giao tôi cho người khác. Sau khi hoàn mãn mọi việc, tôi tụng câu thần chú thứ hai: Thank you very much (Cảm ơn nhiều). Thế là ổn.

    Nhớ hôm nhập cảnh Mỹ ở sân bay Chicago, còn phải bay một chặng nội địa nữa đến Saint Louis thì miền Missouri có tố lốc, chuyến bay chậm 5 giờ. Tôi đến đổi lấy tiền xu để gọi điện cho con trai, nhưng máy cũng nói một tràng dài không hiểu gì cả. Tôi thấy mấy người Mỹ cũng không đổi được tiền, chắc là máy hỏng. Nhớ bài viết “Một mình đến Mỹ” của nhà văn Cao Duy Thảo, khi đến sân bay Saint Louis ông đi lạc ra cửa sau, vội tìm tờ bảo bối ghi sẵn tiếng Anh để mượn máy điện thoại. Tôi chỉ vừa quay ra chưa kịp mở miệng thì có hai người chìa điện thoại, hình như họ theo dõi mọi hành động của tôi. Sau khi gọi điện cho con, tôi đi tìm cái gì để ăn, ngồi ở quầy hơi lâu, nên một trong hai người cho mượn điện thoại đã đến gọi tôi ra máy bay. Tất nhiên là tôi phải tụng câu thần chú thứ hai.

    - Ở Mỹ chẳng ai phục vụ ai. Tiến sĩ Trần Tiễn Khanh vừa nấu ăn vừa nói với tôi như vậy. Anh kể hồi bà mẹ mới từ Huế sang thấy anh rửa bát nói: Tao cho mày ăn học đến tiến sĩ mà phải làm việc này. Anh Khanh nói ở đây tổng thống ăn trưa trong Nhà trắng cũng phải rửa bát. Bà cụ giận anh cho là thằng con nói xạo mình. Cả năm sau cụ hiểu ra.

    Một trí thức Phật tử người Việt nói sống ở đất Mỹ này mà không biết sám hối thì kiếp sau nai lưng mà trả nghiệp. Họ phí phạm vật thực quá. Đồ ăn thừa của Mỹ có thể cứu đói cho cả châu Phi. Tiêu thụ điện thì khỏi phải nói, nhất nhì thế giới. Xe hơi toàn loại phân khối lớn, uống xăng như “pháp”. Còn nếu chỗ ở như tiêu chuẩn người Mỹ thì nhân loại phải cần thêm 5 trái đất nữa. Tài sản trên hành tinh này đâu phải của riêng người Mỹ. Vợ chồng vị trí thức này có thu nhập vào loại cao ở Mỹ mỗi lần về Việt Nam chỉ ở khách sạn bình dân. Ông nói cần tiết kiệm, dôi ra ít tiền để giúp đỡ người khác, còn nhiều người khó khăn. Tôi đã nhìn thấy ở một nhà hàng tự chọn, khi hết giờ bán, họ dùa tất cả thức ăn vào thùng rác đủ các thứ từ của hoàng đế đến bít-tết bò. Còn trên xa lộ từ Las Vegas về gần Los Angeles, một chiều bảy làn xe, xe nào chở hai người trở lên thì được đi vào làn ưu tiên. Nhưng nhìn quanh những xe 3, 4, 5 chấm thậm chí cả xe 6 chấm 12 máy cũng chỉ có một mạng ngồi trên đó.

    Một kỹ sư cao cấp chỉ tòa nhà nơi anh làm việc nói: Tôi đố ông có bao nhiêu người làm việc trong đó? Tôi đoán chắc cả chục ngàn người. Anh khen tôi nói gần đúng, khoảng 10 ngàn kỹ sư như anh và hơn anh đang làm việc trong đó. Tôi hỏi: Các ông làm việc gì ở cái hộp khổng lồ này. Anh đáp: “Nhiệm vụ của bọn tôi trong cái hộp đó là nghĩ ra những điều mà trên đời này chưa có. Như cái Iphone 4 hay cái máy bay B2 to đùng mà lại tàng hình được thì đã nghĩ hàng chục năm trước, hoặc lâu hơn nữa. Ông thông cảm, nước Mỹ là như vậy”.

    Người Mỹ có vẻ dễ tin người. Nếu anh khai đã lái xe an toàn 5 năm, họ tin ngay và hạ mức bảo hiểm cho anh, hay anh nói thu nhập nhà tao dưới mức nghèo, họ phát ngay cho anh cái thẻ nhận hàng cho người nghèo, tất nhiên muốn kiểm tra họ chỉ cần nhấc chuột là xong, nhưng họ chẳng cần làm điều đó vì tin nhau, tin vào sự trung thực của nhau. Vả lại luật pháp của họ chặt chẽ đến mức nếu anh nói láo thì hậu quả khôn lường. Bạn tôi làm việc ở một công ty Mỹ có nhiều người Việt nói rằng những người Việt ở đó ít khi nói chuyện với nhau, gặp nhau cũng chẳng chào hỏi. Anh nói vì người Việt không tin nhau. Cháu Hưng, năm tuổi, con một nghiên cứu sinh, một hôm đi học về nói với các chú: “Việt Nam đánh thắng Mỹ”. Các chú hỏi: “Ai nói với con điều đó. Ở đây mình tế nhị không nên nhắc đến việc đó”. Cháu Hưng dõng dạc: “Cô giáo Mỹ nói với con như vậy.”. Nếu đúng là kẻ thua trận còn niềm tin vào con người, còn người thắng trận không còn niềm tin vào ai, kể cả đồng bào mình thì cái giá cho chiến thắng đó phải trả hơi bị không phải là rẻ.

    Buổi chiều ở thị trấn Rocheport, bên bờ sông Missouri, vốn là một ga xe lửa tuyến đường sắt viễn tây qua các bang Missouri, Kansas, Oklahoma, Texas bây giờ đã thành khu bảo tồn thiên nhiên. Sau khi tháo dỡ tuyến đường sắt nổi tiếng này người ta thành lập công viên quốc gia Katy Trail dài 225 dặm từ Clinton đến St.Charles chạy dọc sông Missouri. Rocheport ở dặm thứ 178,3. Đường sắt cũ thành đường cho người đi xe đạp, đi bộ. Các nhà ga nhộn nhịp được xây dựng từ năm 1865 giờ thành các điểm du lịch, có phòng trưng bày lịch sử của tuyến đường sắt với nhiều ký ức của cuộc chinh phục miền tây. Đến đây dễ làm ta nhớ ra cảnh những cao bồi trên lưng ngựa đuổi theo đoàn tàu phì phò hơi nước trong các phim của Holywood. Bây giờ không còn cảnh ồn ào đó nữa, chỉ có tiếng xào xào của những cánh rừng hai bên đường, lâu lâu lại thấy một đoàn lữ khách đạp xe hoặc cuốc bộ đủ cả nam, phụ, lão, ấu vui vẻ trên đường. Đường sắt ở Mỹ đã hết thời rồi chăng?

    Ở một nhà hàng bán thứ rượu vang địa phương, một nghiên cứu sinh, chưa đến tuổi 30 tâm sự:

    - Những chuyện của nước Mỹ như quản lý xã hội, an sinh, y tế, giáo dục, môi trường họ đã phải làm hơn hai trăm năm mới được như bây giờ, mình cũng có thể học hỏi để áp dụng ở Việt Nam. Ngặt một điều là mình nghèo quá. Thời suy thoái của họ mà cách biệt quá lớn. 1/47 tính theo thu nhập đầu người. Bây giờ mình phải làm giàu cái đã. Làm giàu bằng cách nào? Nếu bình thường phải làm hàng trăm năm như họ nếu không có chiến tranh và tham nhũng. Còn mình đi tắt đón đầu, con đường đi đó có đúng không? Trong khi ở đây người ta tháo dỡ đường xe lửa, thì bên nhà định làm đường sắt cao tốc Bắc Nam tốn 56 tỷ đô la có phải một dạng đi tắt đón đầu không? Mà đất nước mình bây giờ hình như còn nghèo hơn. Tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị hủy hoại, ngay đến học vấn cũng có vấn đề. Những người Việt được các viện nghiên cứu, các trường đại học cử sang đây học là những người xuất sắc, cứ gọi là tinh hoa nhưng so với những nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc… họ cử đại trà hàng trăm hàng nghìn người ở mỗi trường đại học mình cũng chẳng hơn kém họ bao nhiêu, nhất là những phát minh. Chắc chú sẽ hỏi: Ngô Bảo Châu thì sao? Đúng anh ấy là niềm tự hào của Việt Nam mình nên nhà nước tổ chức tôn vinh anh ấy ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Như chú biết đấy, ở đây mà làm như vậy thì phải cần bao nhiêu cái trung tâm...

    Tháng 8-2011

    Thái Bá Lợi

    0 Not allowed! Not allowed!

  2. #2
    MBA family Field Marshal
    Join Date
    Mar 2007
    Posts
    1,726
    Thumbs Up/Down
    Received: 388/1
    Given: 33/1

    Default Ông Thái Bá Tân kể chuyện chuyến thăm tòa soạn Playboy

    http://bee.net.vn/channel/1988/20120...ayboy-1833006/

    http://bee.net.vn/channel/5421/20120...han-2-1833120/

    ( Có một chố nào đó bị viết sai chinh tả " Cặp giò dài" thành "Cặp dò dài " ?


    Ông Thái Bá Tân kể chuyện chuyến thăm tòa soạn Playboy
    17/04/2012 06:48:31

    [FONT="Book Antiqua"][I] - “Tôi không nhớ từ ngày học xong về nước đến nay có dịp nào xem tạp chí này không, nhưng trong ý nghĩ của tôi và những người thuộc thế hệ tôi, Playboy vẫn là một cái gì đấy “hư hỏng”…



    LTS: Dưới đây là bài viết về chuyến thăm toàn soạn Playboy của tác giả Thái Bá Tân – thành viên của Hội nhà văn Việt Nam. Kienthuc.net.vn giới thiệu với bạn đọc những ghi chép và cảm nhận của tác giả trong chuyến đi này.


    “Với thế hệ chúng tôi, Playboy vẫn là cái gì đấy hư hỏng…”

    Cũng theo tinh thần “đi sâu tìm hiểu mọi khía cạnh của nước Mỹ ”như lần xem thoát y vũ ở Hollywood, ở Chicago, chúng tôi được các bạn Mỹ bố trí tham quan trụ sở Playboy, một tạp chí giải trí dành cho “trai chơi” đúng như tên gọi của nó với các bức ảnh phụ nữ khoả thân mà xưa nay ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác vẫn cấm lưu hành.

    Tôi nhớ vào năm 1968, khi còn là sinh viên ở Matxcơva, lần đầu tôi được một anh bạn da đen thầm thì kéo vào phòng, đóng chặt cửa cho xem một số tạp chí Playboy. Thú thật, đây cũng là lần đầu tôi nhìn thấy ảnh phụ nữ khoả thân. Anh bạn da đen cứ nhắc đi nhắc lại phải tuyệt đối không được nói với ai và tất nhiên tôi đã giữ bí mật. Cũng nhờ thế mà sau đó tôi còn được xem thêm mấy số tạp chí này nữa. Thời ấy không chỉ Liên Xô cấm sách báo khiêu dâm, mà cả Đại sứ quán ta ở Matxcơva cũng rất nghiêm về vấn đề này. Ai bị phát hiện xem những thứ “đồi truỵ” ấy có thể sẽ bị đuổi về nước. Thậm chí còn bị đuổi về nước cả vì tội nhảy đầm và “yêu Tây”.


    Tôi không nhớ từ ngày học xong về nước đến nay có dịp nào xem tạp chí này không, nhưng trong ý nghĩ của tôi và những người thuộc thế hệ tôi, Playboy vẫn là một cái gì đấy “hư hỏng”, hay chí ít cũng không thể chấp nhận được về mặt đạo đức. Ấy thế mà bây giờ anh bạn đồng nghiệp Mỹ của tôi, Larry Heinemann đang lái xe đưa chúng tôi đến “hang ổ” của sự “hư hỏng” ấy.

    Bên trong ngôi nhà của thỏ trắng lẳng lơ

    Tòa soạn Playboy ở số nhà 680, đại lộ North Lake Shore. Đó là một trong những tòa nhà cao nhất thành phố nhìn ra hồ Michigan mà tờ tạp chí này thuê mấy tầng. Như ở nhiều nơi khác, ô tô chạy vòng vèo xuống tầng hầm để xe sâu hàng chục mét, rồi từ đấy chúng tôi đi thang máy lên, nên quả tình tôi cũng chẳng biết cổng chính và sảnh lớn của tòa nhà này ở đâu. Từ thang máy bước ra, cái đập vào mắt chúng tôi đầu tiên là hình một chú thỏ trắng lẳng lơ, thắt nơ con bướm, với đôi tai to dài vểnh ngược.


    Trong làng động vật, giống thỏ vốn được xem là loại “máu mê” nhất, ít ra thì cũng đẻ nhiều. Có lẽ vì vậy mà nó được chọn làm biểu tượng cho Playboy chăng? Bên trong tòa soạn, hình của chú còn được treo ở nhiều nơi khác, cả trong phòng khách lớn, nơi có quảng cáo bán loại áo phông trắng in biểu tượng Playboy, giá mỗi chiếc 14,95 đô-la, nếu khách ở xa đặt mua thì cộng thêm 6 đô-la tiền đưa đến tận nhà.

    Đón chúng tôi ở phòng đợi là một cô gái có dáng vẻ châu á và cũng nói tiếng Anh pha ngữ điệu châu á, không hiểu người nước nào. Tôi hơi thất vọng khi thấy cô ăn mặc rất nghiêm chỉnh, kín đáo, vì trước đấy, dù biết ngớ ngẩn, tôi vẫn cứ nghĩ chắc tất cả phụ nữ làm việc ở đây phải hở hang, nếu không muốn nói trần truồng. Điều “thất vọng” tiếp theo là khi nghe cô giới thiệu người hướng dẫn chúng tôi đi tham quan tòa soạn là giám đốc điều hành tạp chí, ông Kevin Buckley, một người đàn ông to béo, râu ria xồm xoàm và chẳng có vẻ “trai chơi” tí nào. Cùng đi với ông còn có cô Asa Barber, cũng một cô gái gốc châu á, xinh đẹp và cũng ăn mặc kín đáo, nếu không kể chiếc váy len bó, dài xẻ một đường quá cao, để lộ đôi chân rất thon và thẳng.

    Dọc các lối đi và hầu như khắp các phòng có treo rất nhiều ảnh vẽ và tranh phụ nữ khoả thân. Một số nơi còn có cả tượng, cả những bức rất lớn, đủ mọi chất liệu với những bộ phận nhạy cảm của phụ nữ được phóng đại nhiều khi thái quá.

    Gặp đồng hương tại Playboy

    “Ở đây có một đồng hương của các bạn đấy!” ông Buckley bảo chúng tôi, rồi ông nhờ cô Asa đi gọi. Lát sau cô dẫn đến một phụ nữ còn trẻ, người đậm đà. Cô tự giới thiệu mình (bằng tiếng Việt, tất nhiên) là Sarah, tên Việt Nam trước kia là Lý, sang Mỹ từ hồi còn nhỏ và làm biên tập ảnh ở đây đã hơn 20 năm. “Chị làm việc ở đây có thích không?” chúng tôi hỏi. Cô nói có, vả lại được trả lương cao. Cô cười, tỏ ý rất mừng được các nhà văn Hà Nội đến thăm tạp chí của cô. Rồi cô lại cười, cúi đầu chào rất thấp và xin phép quay lại chỗ làm việc. Tôi cứ có cảm giác như điệu bộ, dáng người và giọng nói Nam Bộ của cô hơi hơi lạc lõng ở đây, giữa những đôi môi đỏ mọng, những cặp giò dài và những bộ ngực đồ sộ, hồng hào trên các bức ảnh.


    Vừa đi, ông giám đốc điều hành vừa nói qua về tạp chí của ông. Ông cho biết tạp chí chỉ là một bộ phận của “Playboy Enterprises Incorp” (Tập đoàn các xí nghiệp Playboy) do ông Hefner thành lập vào đầu những năm 50, bây giờ thuộc toàn quyền cai quản của con ông, cô Christie Hefner còn rất trẻ. Tạp chí ra mỗi tháng một kì, khoảng 200 trang, khổ lớn, được phát hành rộng rãi khắp thế giới với số lượng 1,3 triệu bản, giá bán ghi ở bìa là 5,95 đô la. (ở Mỹ tôi để ý thấy giá hàng thường ghi tới các số lẻ cuối cùng. Trong trường hợp này thực chất giá là 6 đô la, nhưng người ta ghi thế để người mua có cảm giác chỉ hơn 5 đô-la thôi. Đây cũng là một cách tiếp thị của họ), nghĩa là tương đối rẻ, vì nhờ đăng quảng cáo. Mỗi tháng Playboy chọn giới thiệu một cô đẹp nhất trong tháng, gọi là Miss tháng Một, Miss tháng Hai, vân vân. Cô người đẹp này còn có tên khác là “Playmate” (bạn chơi).

    Và cũng hàng tháng, xưởng phim của tập đoàn Playboy (đóng ở Hollywood, Los Angeles) xuất bản một cuốn bằng video giới thiệu Playmate do tạp chí chọn trong tháng, giá mỗi băng trên dưới 20 đôla. ở Hà Nội, tôi đã có dịp xem một số băng như vậy. Ông còn cho biết toàn bộ Hội đồng giám đốc của tạp chí, gồm 6 người, đều là nam giới, và nói chung cán bộ chuyên môn ở đây rất ít người là phụ nữ. “Và rất tiếc, như các ông thấy, không phải ai cũng đẹp như trong tạp chí”, ông cười nói thêm. “Thời chiến tranh ông có bị gọi đi lính sang Việt Nam không?” ai đấy hỏi. “Rất may là không, ông lại cười, nhưng tôi cũng phải chiến đấu không ít - với các nàng tiên người mẫu và cả đám phụ nữ dưới quyền!”…

    Thái Bá Tân
    (Các tiêu đề do tòa soạn đặt)

    Khám phá toà soạn tạp chí Playboy (phần 2)
    18/04/2012 06:55:58

    - Như ở trụ sở các báo và tạp chí khác, công việc ở tòa soạn Playboy diễn ra sôi động mà lặng lẽ, mỗi người một việc trong ô nhỏ được ngăn riêng của mình, với chiếc máy vi tính và đống tài liệu.

    Các cô gái được trả 25.000 đôla cho mỗi lần chụp


    Nơi ông giám đốc điều hành dẫn chúng tôi đến xem đầu tiên là Studio ảnh, vì dẫu có nhiều chuyên mục khác nhau, nhưng trước hết Playboy vẫn là một tạp chí ảnh, lại chủ yếu ảnh khoả thân. Sở dĩ gọi là Studio vì nó rất lớn, lớn hơn nhiều phòng chụp ảnh của các báo khác. Ở đây, ông giao cho Jim Larson, một thợ chụp ảnh còn trẻ, người to béo, đi đứng khá nặng nề nhưng có vẻ rất vui tính, nói cho chúng tôi biết về công việc của anh và của cả Studio.

    “Tiếc là các vị hôm nay đến đây đúng lúc không có người mẫu!” Jim mở đầu bằng một câu nói đùa. “Các anh cho người ngoài xem khi chụp ảnh phụ nữ khoả thân à?” tôi hỏi. “Về nguyên tắc thì không, nhưng với các vị thì được!” Tất nhiên anh ta đùa. Jim cho biết nhóm của anh làm việc khá vất vả, nhiều khi phải mất mấy ngày mới chụp được một kiểu đáng đưa lên tạp chí.

    Trả lời câu hỏi người được chụp là ai, anh nói: “Là bất kỳ người nào có thân hình và nét mặt đẹp, và họ tự nguyện làm điều đó. Nhưng thường là sinh viên và các cô gái mới lớn, từ khắp nước Mỹ chứ không riêng ở Chicago”. Theo anh, được Playboy chụp ảnh khỏa thân đăng báo, với các cô là niềm tự hào lớn. Có thể nó còn mở đường cho họ đi vào thế giới người mẫu, điện ảnh và trở thành nổi tiếng. Cả Marilyn Monroe huyền thoại và ca sĩ Madona cũng khởi đầu từ Playboy này.

    Madona trên trang bìa Playboy năm 1978. Ảnh: IE.

    Cô Asa Barber, lúc ấy đứng cạnh, nói nhỏ với tôi rằng mỗi lần tạp chí chọn chụp ảnh, các cô được trả 25.000 đôla!

    “Chắc anh hài lòng lắm khi làm nghề này?” một đồng nghiệp Việt Nam hỏi. Jim nhăn nhó đáp: “Tôi thì lại nghĩ ngược lại. Anh có cảm thấy hài lòng không khi suốt ngày phải chiêm ngưỡng những mâm cỗ đầy ắp thức ăn ngon lành mà anh, dù bụng đói, vẫn không được đụng vào?” Tất cả cùng cười.

    “Chúng tôi là nghệ thuật!”

    Tiếp đến chúng tôi đi sang phòng hóa trang của các cô người mẫu ảnh. Đây cả là một kho lớn đầy trăm nghìn thứ khác nhau mà phụ nữ cần có để tăng vẻ đẹp cho mình, từ những chiếc áo dài, áo lưới mỏng như mạng nhện, những đôi giày đủ loại, đủ chất liệu đến hàng tủ tất và quần áo lót. Jim cho biết tạp chí có cả một đội quân chuyên gia trang điểm để làm một cô gái đã đẹp càng đẹp thêm bội phần.

    Phải thừa nhận rằng nghệ thuật nhiếp ảnh giữ vai trò cực kì quan trọng, nếu không nói quyết định, trong việc tôn thêm sắc đẹp cho con người. Nhiều cô gái đẹp đời thường ta gặp ngoài phố rõ ràng không hồng hào và quyến rũ như trong ảnh tạp chí. Cả những thứ tôi đang nhìn đây, sờ thấy đây kể ra cũng chẳng có gì đặc biệt, thậm chí chiếc ghế xa lông bọc vải các cô gái đẹp vẫn ngồi chụp ảnh nhìn kỹ thấy có chỗ hơi sờn, thế mà trên ảnh của Playboy sao chúng đẹp thế, kì ảo thế.


    Phòng tư liệu ảnh cũng là một bộ phận quan trọng của tạp chí. Cô Elizabeth Georgiou làm ở phòng này dẫn chúng tôi đi dọc theo những chiếc tủ sắt cao tận trần với những ô nhỏ như các ô phích thư viện. Cô cho biết ở đây ảnh và phim được các thiết bị đặc biệt cho phép lưu giữ hàng chục năm, và thông thường một ảnh từ khi được chụp đến khi đưa lên mặt báo phải mất khá lâu, có thể hàng tháng, vì còn phải qua các khâu xử lí chuyên môn, thẩm định và phê duyệt.

    Cuối cùng, trước khi chia tay, ông Kevin Buckley, giám đốc điều hành tạp chí, mời chúng tôi vào một căn phòng lớn, có vẻ như phòng truyền thống vì trên tường treo nhiều chân dung những người sáng lập hoặc cán bộ lãnh đạo tập đoàn Playboy. Còn trong tủ kính là các số tạp chí mới in. Tất nhiên cả ở đây cũng không thể thiếu biểu tượng chú thỏ thắt nơ với đôi tai lẳng lơ kia. Câu đầu tiên ông nói khi tất cả đã ngồi xuống bàn là tạp chí của ông khác hẳn với những tạp chí tình dục có rất nhiều ở Mỹ.

    “Chúng tôi là nghệ thuật!” ông tuyên bố. “Không một bức ảnh nào của chúng tôi có tính khiêu dâm như người ta lầm tưởng. Như để minh họa cho lời ông vừa nói, ông nhờ cô Asa Barber lấy biếu chúng tôi mỗi người một bản số Playboy mới nhất. Số tháng Một 1997, dù hôm ấy mới là 17 tháng 12, 1996.

    Playboy tuyệt đối không in ảnh nào có cảnh làm tình

    Về nghệ thuật, có lẽ phải thừa nhận ông nói đúng. Tôi giở lướt qua tờ tạp chí. Quả thật các bức ảnh Playboy rất đẹp, rất nghệ thuật, từ màu sắc, bố cục, ấn tượng đến kĩ xảo nghề nghiệp. Còn việc có khiêu dâm hay không thì lại là chuyện khác. Điều này còn tùy vào quan điểm thẩm mỹ, văn hoá và lối sống của người đánh giá.

    Cá nhân tôi, khi xem những bức ảnh khoả thân ở đây, vốn được chụp một cách tế nhị, không quá lộ liễu, tôi không có cảm giác nào ngoài cảm giác do cái đẹp tạo nên. Cái đẹp hoàn mĩ của cơ thể phụ nữ. Kevin Buckley cho biết Playboy tuyệt đối không in ảnh nào có cảnh làm tình, mà rồi tỉ lệ ảnh phụ nữ khỏa thân cũng không được quá lớn so với các phần khác.

    Khi viết những dòng này, tôi đang có trong tay số Playboy mới nhất được đích thân ông chủ bút tặng. Ta hãy lướt xem bên trong có những gì. Chuyên đề số này là Marilyn Monroe, để kỉ niệm lần đầu cô chụp ảnh với Playboy, cách đây 50 năm, vì vậy mà ngoài bìa in ảnh cô mặc áo len dài màu đen khá kín đáo. Bên trong, viết bài về cô không phải ai khác mà chính là John Updike, một trong những nhà văn lớn nhất ở Mỹ (khi đó).

    Bài được minh họa bằng một số bức ảnh tuyệt đẹp, có cái chiếm tới ba trang, phần lớn khỏa thân, trên nền những tấm thảm nhung đỏ, là thứ lúc còn sống cô rất thích. Theo lời John Updike thì có lẽ chưa và sẽ không bao giờ có được một cơ thể phụ nữ nào đẹp và hoàn hảo hơn Marilyn Monroe. Ông cho biết Monroe đã nhận được 50 đôla nhờ cho chụp những bức ảnh này, một số tiền khá lớn thời ấy, đủ để cô chuộc lại chiếc ô tô bị gán nợ trước đó.

    Như các tờ báo và tạp chí khác ở Mỹ, số trang quảng cáo ở số Playboy này không ít, trên dưới 20%. Toàn bộ bảy trang đầu tạp chí là quảng cáo của hãng thuốc lá Malboro nổi tiếng. Ngoài ra còn có quảng cáo của đủ các loại hàng hóa khác nhau, nhưng không có các dụng cụ tình dục để, như ông giám đốc điều hành nói, khỏi gây hiểu lầm cho Playboy.


    Ảnh Marilyn Monroe trên bìa Playboy tháng 1/1997. Ảnh: IE.

    Playboy còn giới thiệu truyện

    Như đã nói, mỗi số tạp chí giới thiệu một Playmate (người đẹp trong tháng, và số tháng 1 năm 1997 người ấy là cô Jami Ferrell. Dĩ nhiên, một số trang tương xứng đã được dành để in ảnh và nói về cô, với đủ các số đo, sở thích và ước mơ. Cũng trong số này tạp chí giới thiệu 12 Playmate của năm 1996, từ Miss January (tháng Giêng) đến Miss December (tháng Mười Hai), trong đấy có Miss June (tháng 6) là da đen. Tiếp đến là phần truyện, mỗi số đăng một truyện hoặc đăng tải nhiều kì.

    Số này là truyện “Vụ nổ từ quá khứ" của nhà văn Raymond Benson, về sự quay lại của James Bond, nhân vật chính của bộ phim nhiều tập nổi tiếng “Điệp viên 007”. Hai trang được dành cho mục hỏi đáp về các vấn đề liên quan đến tình dục. Một trang để đăng chuyện tiếu lâm, có chuyện chỉ hai dòng. Ông giám đốc cho biết mỗi chuyện tiếu lâm được đăng nhuận bút là 100 đôla và một cuốn tạp chí. Ông còn đùa hỏi chúng tôi có vị nào muốn làm “cộng tác viên” của ông về mục này không?

    Nhiều chuyện rất dí dỏm nhưng cũng có nhiều chuyện khá nhạt. Không có chuyện nào tục tĩu. Có hẳn một mục chuyên đăng tin giật gân về tình ái của các vị tai to mặt lớn ở Mỹ và thế giới. Số này có lẽ tin giật gân nhất do Playboy khui ra là việc Dick Morris, phụ tá thân cận của tổng thống Bill Clinton có “vợ hai không chính thức”. Tệ hại hơn, khi chung chăn gối, ông ta còn thủ thỉ cho người tình nghe nhiều “top secrets” (tin tuyệt mật) của Nhà Trắng.

    Mục “Diễn đàn Playboy” số này được giành hẳn tám trang, đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, từ việc các nhà họach định chính sách cần làm gì để giảm bớt hiện tượng các em gái học sinh có bầu, đến việc nêu câu hỏi (và phân tích “trên góc độ khoa học”) thủ dâm có hại hay lợi? Thậm chí ở mục này còn đăng cả “Tuyên ngôn” của ... “Hội những người thủ dâm” được thành lập tháng Mười 1995 tại trường Đại học Miami, thành phố Oxford, bang Ohio!...

    Quay lại với cuộc nói chuyện cùng Kevin Buckley ở phòng Truyền thống... Cô Asa bê ra một hộp kẹo lớn rất đẹp với những chiếc kẹo đủ hình thù khác nhau được gói giấy cũng rất đẹp. Tôi cầm một chiếc mân mê trên tay, băn khoăn tự hỏi có phải bên trong là một hình người phụ nữ khỏa thân hay không. Hóa ra đó chỉ là chiếc kẹo sôcôla bình thường, có hình một “Chú lính chì dũng cảm”. Và ăn rất ngon.

    Thái Bá Tân
    (Đề bài và các tiêu đề nhỏ tòa soạn tự đặt)
    ,
    [In tin]
    Bài báo trên bee.net.vn
    Xuất bản lúc:18/04/2012 06:55:58

    0 Not allowed! Not allowed!

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •